Tóm tắt nhanh: DFT (độ dày màng sơn khô) là thước đo quan trọng nhất của hệ sơn bảo vệ, quyết định độ bền chống ăn mòn. Cần đo bằng máy đã hiệu chuẩn, đo theo lưới điểm đều trên bề mặt và so sánh với yêu cầu trong TDS và hồ sơ kỹ thuật. Thiếu DFT làm giảm tuổi thọ, thừa DFT có thể gây nứt, chảy, lâu khô.
Hệ sơn đã thi công đủ số lớp, nhưng chỉ vài năm sau kết cấu thép đã gỉ lốm đốm, sàn epoxy bong từng mảng? Rất nhiều trường hợp truy ngược về một nguyên nhân giản dị: độ dày màng sơn khô (DFT) thực tế thấp hơn yêu cầu. Màu sơn đẹp, bề mặt trông đều, nhưng lượng vật liệu bảo vệ thật sự trên bề mặt lại không đủ.
Khác với nhìn bằng mắt, DFT chỉ có thể kiểm soát bằng cách đo. Bài viết này hướng dẫn cách chọn thiết bị, bố trí điểm đo, đọc kết quả và xử lý khi sai lệch, theo góc nhìn đội kỹ thuật Sơn Bảy Màu.
Ảnh minh họa: Unsplash
DFT (dry film thickness) là chiều dày lớp sơn sau khi đã khô, tính bằng micromet (µm). Ngược lại WFT (wet film thickness) là chiều dày màng ướt ngay sau khi quét hoặc phun. Với hệ sơn bảo vệ, tuổi thọ phụ thuộc rất lớn vào việc đạt đủ DFT yêu cầu: mỏng quá thì khả năng chắn ẩm và chống ăn mòn giảm, dày quá có thể gây nứt, chảy, lâu khô hoặc giữ dung môi.
Khi thi công, thợ không đo được DFT ngay vì sơn chưa khô, nên dùng WFT để kiểm soát tạm thời. Công thức liên hệ: DFT = WFT × hàm lượng chất rắn theo thể tích (%) ÷ 100. Hàm lượng chất rắn theo thể tích phải lấy từ TDS của đúng sản phẩm.
Ví dụ giả định: sơn có hàm lượng chất rắn theo thể tích là 60%, yêu cầu DFT mỗi lớp là 100 µm. Khi đó WFT cần đạt khoảng 100 ÷ 0,60 ≈ 166,7 µm. Độ phủ lý thuyết ≈ 60 × 10 ÷ 100 = 6 m² cho mỗi lít. Đây chỉ là số giả định để minh họa phép tính, thực tế còn hao hụt do bề mặt, phương pháp thi công và thất thoát nên lượng sơn thực dùng sẽ cao hơn.
| Loại nền | Nguyên lý máy | Ghi chú |
|---|---|---|
| Thép, sắt (từ tính) | Cảm ứng từ | Phổ biến nhất cho kết cấu thép sơn chống ăn mòn |
| Nhôm, thép không gỉ, kim loại màu | Dòng xoáy | Dùng cho nền kim loại không từ tính |
| Máy kết hợp | Từ tính và dòng xoáy | Tiện khi công trình có nhiều loại nền |
| Bê tông, gỗ | Phương pháp phá hủy nhẹ hoặc đo màng ướt | Cần phương pháp riêng, theo tiêu chuẩn và thỏa thuận kỹ thuật |
Dù là loại nào, máy phải được hiệu chuẩn trước khi dùng, bằng tấm chuẩn có chiều dày đã biết, và hiệu chuẩn lại khi thay nền khác hoặc khi nghi ngờ số đo. Bề mặt thép sau phun bi hoặc làm nhám có biên dạng gồ ghề nên số đọc cần hiệu chỉnh theo quy trình của tiêu chuẩn áp dụng.
Một điểm đo riêng lẻ không đại diện cho cả bề mặt, vì vậy cần xét trung bình của khu vực và mức thấp nhất, cao nhất cho phép. Ví dụ giả định: một khu vực đo 5 điểm với kết quả 95, 110, 102, 88, 120 µm, trung bình = (95 + 110 + 102 + 88 + 120) ÷ 5 = 103 µm. Nếu yêu cầu là 100 µm, giá trị trung bình đạt nhưng cần xem tiêu chuẩn áp dụng có cho phép điểm 88 µm hay không. Tiêu chí cụ thể (ví dụ tỷ lệ cho phép thấp hơn yêu cầu) phải theo tiêu chuẩn hoặc hợp đồng của dự án, không áp dụng tùy tiện.
Việc kiểm soát DFT đặc biệt quan trọng với nhóm sơn chống gỉ và sơn công nghiệp. Để hiểu cách chọn hệ sơn theo môi trường ăn mòn, bạn có thể tham khảo bài sơn chống rỉ kết cấu thép theo ISO 12944, và bài ăn mòn dưới lớp bảo ôn (CUI) cho trường hợp đặc biệt. Với lớp phủ hoàn thiện ngoài trời, xem thêm sơn phủ polyurethane cho kết cấu thép ngoài trời.
Với kết cấu thép, quy trình nên gồm: làm sạch bề mặt, sơn lót, lớp chức năng, sơn phủ, đồng thời kiểm soát điểm sương và độ ẩm môi trường khi thi công. DFT nên được kiểm tra sau từng lớp quan trọng thay vì chỉ kiểm tra cuối cùng.
Ảnh minh họa: Unsplash
Hãy yêu cầu có biên bản đo DFT kèm bản vẽ hoặc sơ đồ vị trí đo, nhất là với công trình công nghiệp. Việc này vừa giúp nghiệm thu rõ ràng, vừa là căn cứ khi cần bảo hành hay đánh giá nguyên nhân hư hỏng sau này. Các điểm cạnh, góc, mối hàn luôn nên được sơn dặm và kiểm tra riêng.
Đừng cố “tiết kiệm” bằng cách pha loãng thêm hay sơn mỏng hơn khuyến cáo. Tiết kiệm vài lít sơn có thể đổi bằng chi phí sơn lại toàn bộ hệ. Để được tư vấn hệ sơn và định mức theo công trình, liên hệ hotline 0906768360 - 0931778862.
Không nên. Màng sơn còn mềm sẽ bị lún dưới đầu đo, cho kết quả sai và có thể làm hỏng bề mặt. Hãy đợi sơn khô theo thời gian ghi trong TDS. Trong khi thi công, dùng thước đo WFT để kiểm soát tạm thời rồi quy đổi sang DFT dự kiến.
Có. Cần hiệu chuẩn trước khi sử dụng, bằng tấm chuẩn có chiều dày đã biết, và hiệu chuẩn lại khi đổi loại nền hoặc khi nghi ngờ kết quả. Với bề mặt thép nhám sau làm sạch, số đọc cần hiệu chỉnh theo quy trình của tiêu chuẩn áp dụng cho dự án.
Tùy tiêu chuẩn và hợp đồng. Một số dự án cho phép một tỷ lệ nhất định điểm đo thấp hơn yêu cầu nếu trung bình đạt. Tuy nhiên với môi trường ăn mòn cao, DFT thiếu có thể rút ngắn tuổi thọ lớp phủ đáng kể. Cần đối chiếu tiêu chí nghiệm thu của dự án trước khi kết luận.
Không. Máy đo từ tính chỉ dùng cho nền thép sắt. Với bê tông, cần phương pháp khác như đo màng ướt khi thi công hoặc đo phá hủy theo thỏa thuận kỹ thuật. Vì thế với sơn nước trên tường, chất lượng thường được kiểm soát qua định mức và số lớp hơn là đo DFT.
Nguồn tham khảo: nguyên lý đo độ dày màng sơn khô theo các tiêu chuẩn kiểm tra lớp phủ thông dụng (ví dụ ISO 19840, SSPC-PA 2); thông số từng sản phẩm theo TDS của nhà sản xuất.
Hotline: 0906768360 - 0931778862 | Website: sonbaymau.com